Đang lấy ý kiến của Bộ
Quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Ngày bắt đầu lấy ý kiến: 30/07/2019. Ngày hết hạn: 30/09/2019
Lĩnh vực văn bản: An toàn vệ sinh lao động
Loại văn bản: Nghị định
Tóm tắt
Nghị định này quy định mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Lần dự thảo:

NGHỊ ĐỊNH

Quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật an toàn, vệ sinh lao động ngày 25 tháng 6 năm 2015;

Căn cứ Luật bảo hiểm xã hội ngày 20 tháng 11 năm 2014;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

Chính phủ ban hành Nghị định quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

 

CHƯƠNG I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội.

2. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Năm đề xuất là năm gửi văn bản đề xuất áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường.    

2. Chuyên gia đánh giá chính thức là viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn với tổ chức chứng nhận.

3. Lao động chính thức là lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính bình quân trong 03 năm liền kề trước năm đề xuất.

 

CHƯƠNG II

MỨC ĐÓNG VÀ PHƯƠNG THỨC ĐÓNG VÀO QUỸ BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP

Điều 4. Mức đóng và phương thức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Người sử dụng lao động hằng tháng đóng trên quỹ tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 của Luật bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp lao động là người giúp việc gia đình, theo một trong các mức sau:

a) Mức đóng bình thường bằng 0,7% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội;

b) Mức đóng bằng 0,5% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với trường hợp đủ điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này; đồng thời được áp dụng đối với người lao động là cán bộ, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng vũ trang thuộc các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, quân đội, công an, đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng ngân sách nhà nước;

c) Mức đóng bằng 0,3% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội được áp dụng đối với trường hợp đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.

2. Người sử dụng lao động hằng tháng đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp với mức 0,5% mức lương cơ sở đối với mỗi người lao động quy định tại điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật bảo hiểm xã hội.

3. Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì mức đóng hằng tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần.

Điều 5. Các trường hợp được áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Người sử dụng lao động được áp dụng mức đóng quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Không vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động và không vi phạm về đóng bảo hiểm xã hội từ mức bị xử phạt vi phạm hành chính trở lên trong vòng 03 năm tính đến thời điểm đề xuất;

b) Thực hiện việc báo cáo định kỳ tai nạn lao động và báo cáo về an toàn, vệ sinh lao động chính xác, đầy đủ, đúng thời hạn trong 03 năm liền kề trước năm đề xuất;

c) Có chứng nhận đang còn giá trị về việc đáp ứng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO 45001:2018 hoặc TCVN tương đương do Tổ chức chứng nhận đủ điều kiện quy định tại Điều 6 của Nghị định này cấp;

d) Giảm 50% tần suất tai nạn lao động (bao gồm cả các trường hợp bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở) tính từ năm liền kề trước năm đề xuất so với tần suất tai nạn lao động trung bình của 03 năm liền kề trước năm liền kề của năm đề xuất, đối với doanh nghiệp thuộc ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hoặc không để xảy ra tai nạn lao động (bao gồm cả các trường hợp bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở) tính từ 03 năm liền kề trước năm đề xuất, đối với cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức khác;

đ) Chi phí thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động bình quân trong 03 năm liền kề trước năm đề xuất ít nhất bằng 0,5% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động.

2. Người sử dụng lao động được áp dụng mức đóng quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 4 của Nghị định này nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Đáp ứng đầu đủ các quy định tại Điểm a,b và c Khoản 1 Điều này

b) Giảm 75% tần suất tai nạn lao động (bao gồm cả các trường hợp bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở) tính từ năm liền kề trước năm đề xuất so với tần suất tai nạn lao động trung bình của 03 năm liền kề trước năm liền kề của năm đề xuất, đối với doanh nghiệp thuộc ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; hoặc không để xảy ra tai nạn lao động (bao gồm cả các trường hợp bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở) tính từ 03 năm liền kề trước năm đề xuất, đối với đối với cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức khác;

c) Chi phí thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động bình quân trong 03 năm liền kề trước năm đề xuất ít nhất bằng 1 % quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động;

d) Đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật để cải thiện điều kiện lao động vào bất kỳ năm nào trong 03 năm liền kề trước năm đề xuất.

Điều 6. Giấy chứng nhận ISO 45001:2018 làm căn cứ để xem xét áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Giấy chứng nhận ISO 45001:2018 làm căn cứ để xem xét áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 5 của Nghị định này được cấp bởi tổ chức chứng nhận đáp ứng đủ yêu cầu về năng lực sau đây: 

a) Có Giấy đăng ký hoạt động chứng nhận còn hiệu lực về lĩnh vực Hệ thống quản lý theo ISO 45001:2018, đúng theo quy định tại Nghị định số 107/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh đánh giá sự phù hợp;

b) Có đủ chuyên gia đánh giá an toàn, vệ sinh lao động đáp ứng yêu cầu về số lượng và năng lực quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 của Điều này.    

2. Yêu cầu về số lượng tối thiểu các chuyên gia đánh giá an toàn, vệ sinh lao động của tổ chức chứng nhận như sau:

a) Có ít nhất 10 chuyên gia đánh giá chính thức của tổ chức, nếu đánh giá doanh nghiệp có sử dụng từ 1.000 lao động chính thức trở lên trong lĩnh vực có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; 

b) Có ít nhất 06 chuyên gia đánh giá chính thức của tổ chức, nếu đánh giá doanh nghiệp có sử dụng từ 300 đến dưới 1.000 lao động chính thức  trong lĩnh vực có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; 

c) Có ít nhất 04 chuyên gia đánh giá chính thức của tổ chức, nếu đánh giá các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức khác với các doanh nghiệp quy định tại Điểm a và Điểm b của Khoản này.

3. Năng lực của chuyên gia đánh giá an toàn, vệ sinh lao động phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:

a) Có trình độ từ đại học thuộc chuyên ngành khối kỹ thuật;

b) Có ít nhất 10 năm làm các công việc về xây dựng chính sách, pháp luật, quản lý, thanh tra, kiểm tra về an toàn, vệ sinh lao động tại cơ quan có chức năng, nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến công tác an toàn, vệ sinh lao động an toàn, vệ sinh lao động; hoặc có ít nhất 10 năm làm công việc về an toàn, vệ sinh lao động ở đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp;

c) Đã hoàn thành khóa huấn luyện, bồi dưỡng, sát hạch đạt yêu cầu về nghiệp vụ đánh giá công tác an toàn, vệ sinh lao động theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;

d) Có chứng chỉ hoàn thành khóa học và đạt yêu cầu về đánh giá công nhận hệ thống quản lý về an toàn, vệ sinh lao động theo tiêu chuẩn ISO 45001-2018 hoặc TCVN tương đương.

CHƯƠNG III

HỒ SƠ, TRÌNH TỰ THỦ TỤC VÀ THỜI HẠN THỰC HIỆN MỨC ĐÓNG THẤP HƠN MỨC ĐÓNG BÌNH THƯỜNG VÀO QUỸ BẢO HIỂM TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP

 

Điều 7. Hồ sơ đề xuất được áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Đơn đề nghị theo mẫu quy định tại Phụ lục số I ban hành kèm theo Nghị định này.

2. Bản sao kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động trong 03 năm liền kề trước năm đề xuất.

3. Bản sao giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 45001: 2018 (hoặc TCVN tương đương) kèm theo bản sao Báo cáo đánh giá sự tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động (theo mẫu quy định tại Phụ lục số II ban hành kèm theo Nghị định này).

Điều 8. Trình tự, thủ tục quyết định áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Người sử dụng lao động có nhu cầu áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì nộp đầy đủ hồ sơ theo quy định tại Điều 7 Nghị định này về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

2. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ từ người sử dụng lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm triển khai các công việc sau:

a) Gửi văn bản đến Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức gửi hồ sơ đề xuất được áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) đề nghị đánh giá về tình hình báo cáo tai nạn lao động, báo cáo an toàn, vệ sinh lao động và việc kiểm tra, thanh tra chấp hành pháp luật (nếu có) theo mẫu tại Phụ lục III được ban hành kèm theo Nghị định này; 

b) Thực hiện đăng tải thông tin của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức lên cổng thông tin điện tử của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để lấy ý kiến rộng rãi trong vòng ít nhất 15 ngày;

c) Tổ chức thẩm định, đánh giá và ban hành quyết định điều chỉnh, áp dụng mức đóng mới thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo mẫu tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định này, đồng thời gửi quyết định đến cơ quan bảo hiểm xã hội để tổ chức thực hiện.

d) Trường hợp không giải quyết thì phải có văn bản trả lời cho người sử dụng lao động và nêu rõ lý do.

Điều 9. Thời hạn áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Thời gian thực hiện mức đóng theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 4 Nghị định này là 36 tháng kể từ tháng quyết định áp dụng mức đóng có hiệu lực;

2. Trước khi hết thời hạn áp dụng mức đóng theo quy định tại Khoản 1 Điều này trong vòng 60 ngày, người sử dụng lao động nếu vẫn muốn duy trì mức đang đóng hoặc áp dụng mức đóng thấp nhất vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động thì lập 01 bộ hồ sơ theo quy định lại Điều 6 và thực hiện quy trình đề nghị theo quy định tại Điều 7 Nghị định này.

Điều 10. Thu hồi, hủy bỏ Quyết định điều chỉnh, áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Quyết định điều chỉnh, áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 9 của Nghị định này sẽ bị thu hồi, hủy bỏ trong các trường hợp sau:

a) Phát hiện người sử dụng lao động có hành vi giả mạo hoặc khai man các tài liệu trong Hồ sơ đề xuất được áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

b) Tổ chức chứng nhận có hành vi gian lận, không đáp ứng yêu cầu năng lực quy định tại Điều 5 của Nghị định này trong họat động cấp Giấy chứng nhận ISO 45001:2018 làm căn cứ để xem xét áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

c) Người sử dụng lao động trong thời gian được áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà phát hiện vi phạm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động ở mức độ tương đương việc xử lý vi phạm hành chính từ phạt tiền trở lên;

d) Người sử dụng lao động không thực hiện báo cáo tai nạn lao động, báo cáo công tác an toàn vệ sinh lao động trong thời gian được áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

2. Trường hợp phát hiện vi phạm theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm sau:

a) Hoàn trả phần tiền đóng chênh lệch với mức đóng bình thường đã được giảm trong thời gian thực hiện Quyết định điều chỉnh, áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

 b) Thực hiện mức đóng bằng 1% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội trong thời gian 36 tháng kể từ khi Quyết định điều chỉnh, áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hết hiệu lực.

3. Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm theo quy định tại Điểm b, c và d Khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bằng 0,7 % quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội kể từ khi Quyết định điều chỉnh, áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hết hiệu lực.

 

CHƯƠNG IV

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 11. Trách nhiệm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

1. Quy định chi tiết về nội dung, chương trình và việc tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng, sát hạch nghiệp vụ đánh giá an toàn, vệ sinh lao động, đáp ứng yêu cầu về năng lực để đánh giá sự tuân thủ pháp luật theo mẫu báo cáo tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này; hướng dẫn về cách tính tần suất tai nạn lao động, thâm niên làm công tác an toàn, vệ sinh lao động.

2. Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị của Tổ chức chứng nhận theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Nghị định này, thực hiện công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Cục An toàn lao động). Trường hợp không bảo đảm năng lực để công bố thì trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

3. Công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Cục An toàn lao động) danh sách các chuyên gia đánh giá về an toàn, vệ sinh lao động; các thay đổi của tổ chức đánh giá; các vi phạm pháp luật trong hoạt động đánh giá chứng nhận ISO 45001 : 2018 quy định tại Nghị định này.

4. Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về việc đánh giá sự tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; quyết định điều chỉnh mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

5. Quyết định giao nhiệm vụ cho cơ quan chuyên môn thuộc Bộ thực hiện trách nhiệm quyết định áp dụng mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quyết định công bố tổ chức chứng nhận đủ năng lực thực hiện cấp Giấy chứng nhận ISO 45001:2018 thuộc thẩm quyền của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

6. Tổ chức thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện Nghị định này trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trung ương; tổ chức tập huấn, hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, đoàn thể liên quan trong triển khai thực hiện và thanh tra, kiểm tra thực hiện Nghị định này.

7. Chủ trì, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động đánh giá về an toàn, vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật.

Điều 12. Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

1. Tổ chức hướng dẫn và chỉ đạo cơ quan Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc điều chỉnh mức đóng vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

2. Tổng hợp báo cáo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tình hình sử dụng quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành.

Điều 13. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

1. Tổ chức thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, quản lý, tổ chức thực hiện việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Nghị định này trên địa bàn quản lý.

2. Chỉ đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện việc báo cáo chấp hành pháp luật an toàn vệ sinh lao động của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức theo mẫu tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.

3. Chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành liên quan phối hợp với tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương thanh tra, kiểm tra, việc chấp hành các quy định pháp luật về việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trên địa bàn.

Điều 14. Trách nhiệm của tổ chức cấp Giấy chứng nhận ISO 45001:2018 làm căn cứ để xem xét áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành trong hoạt động đánh giá chứng nhận, tổ chức đánh giá chứng nhận ISO 45001:2018 làm căn cứ để xem xét áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp còn có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định sau:  

1. Cử chuyên gia đánh giá tham dự các lớp huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ đánh giá an toàn, vệ sinh lao động.

2. Gửi về Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Cục An toàn lao động) đơn đề nghị công bố đủ năng lực theo mẫu tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này, trước khi thực hiện đánh giá cấp Giấy chứng nhận ISO 45001:2018 làm căn cứ để xem xét áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

3. Trong quá trình triển khai đánh giá chứng nhận theo tiêu chuẩn ISO 45001:2018 tại cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:

a) Xây dựng quy trình đánh giá cụ thể phù hợp với cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức được đánh giá chứng nhận;

b) Cử chuyên gia đủ năng lực đã được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Cục An toàn lao động) để thực hiện quá trình đánh giá chứng nhận;

c) Lập báo cáo đánh giá sự tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động theo mẫu tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.

4. Duy trì số lượng chuyên gia đánh giá đáp ứng quy định tại Khoản 2 Điều 6 của Nghị định này trong quá trình hoạt động. Thông báo cho Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội các thay đổi có ảnh hưởng tới năng lực hoạt động đánh giá đã công bố trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có sự thay đổi.

5. Báo cáo định kỳ hàng năm hoặc đột xuất khi có yêu cầu về Bộ Lao dộng – Thương binh và Xã hội theo mẫu tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này.

Điều 15. Trách nhiệm của người sử dụng lao động

1. Cung cấp hồ sơ, tài liệu, các bằng chứng về mức độ tuân thủ và phối hợp với Tổ chức đánh giá và chuyên gia đánh giá trong quá trình đánh giá sự tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

2. Cử người phối hợp và giám sát bảo đảm Tổ chức đánh giá và chuyên gia đánh giá thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình đánh giá sự tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

3. Lưu giữ đầy đủ hồ sơ đánh giá sự tuân thủ và đề nghị áp dụng mức đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu theo quy định của pháp luật.

 

CHƯƠNG V

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 16. Hiệu lực thi hành

1.     Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.

2. Việc áp dụng mức đóng vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điểm b và Điểm c Điều 4 của Nghị định này thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.

3. Các quy định tại Nghị định số 44/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ quy định mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hết hiệu lực từ khi Nghị định này có hiệu lực.

Điều 17. Tổ chức thực hiện

1. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm trình Chính phủ xem xét, quyết định điều chỉnh mức đóng quy định tại Điều 4 của Nghị định này, căn cứ vào khả năng bảo đảm cân đối Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong từng thời kỳ; tổ chức triển khai thực hiện Nghị định này.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

Không có thông tin
Không có thông tin
Không có thông tin